Pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền  

Duc su to DASIRANARADA

Home

                                                            DASIRA NARADA
0:00/3:55

DẪN NHẬP

Vi Diệu Pháp Hành Thiền là môn khoa học tâm linh thực nghiệm, nghiên cứu về môi trường tiến hóa của con người và vạn vật. Môi trường đề cập ở đây không giới hạn trong lãnh vực môi sinh hay thể chất đơn thuần. Từ lâu con người lầm tưởng sự sống được duy trì bởi vật chất. Hầu hết các tôn giáo cũng mang một quan niệm đối lập cực đoan, cứ ngỡ tâm linh hay linh hồn là chủ yếu trong sự sinh tồn hữu hình. Hai quan niệm trên là hai mặt của một thực thể bất khả phân, nó là một sinh khí năng động và hằng hữu, duy trì sự hiện hữu tinh thần lẫn vật chất, và trước khi hình thành thể chất, hoặc sau khi phân hủy hình hài, nó vẫn là động lực tạo môi trường cho tâm linh tu học tiến hóa. Những danh gọi như Thượng Đế Tánh hoặc Phật Tánh tiêu biểu cho cái tuyệt đối vô cùng, phi thiện, phi ác. Trong thực tế nó hiện hữu khắp nơi, vượt không gian và thời gian; vì thời gian và không gian chỉ là ý niệm của con người, còn mang tính cách giới hạn. Những nguồn lực hóa thân vào các mô dạng sinh vật luôn tiến hóa không ngừng, ta tạm gọi là năng lượng.

Thiền định vốn có đã lâu, từ lúc con người biết đến đời sống tu tập tâm linh, thiền định là phương pháp giúp con người thanh lọc nội tâm. Luân xa rất cần thiết và giữ vai trò quan trọng trong việc đưa năng lượng vào cơ thể con người, hầu tẩy xóa những trược khí đã bao phủ, giúp chỉnh đốn siêu tế bào, khiến tâm thức được trong sáng, thoát khỏi sự vô minh, để chủ động mọi sinh hoạt tiến hóa một cách thuần nhiên. Sau khi Tổ chứng đắc, Ngài đã dụng tuệ thức khai sáng Vi Diệu Pháp Hành Thiền để cứu giúp nhân loại. Năng lượng là ánh sáng, là nguồn sống tình thương luôn luân lưu trong cuộc sống con người, và chỉ có thể hiểu biết được nó qua dấn thân trải nghiệm, chứ không thể dùng ngôn ngữ diễn đạt một cách trọn vẹn được. Tập luyện bằng một kỹ thuật thiền định tinh tế, năng lượng tiếp nhận qua các luân xa giúp ta phát triển tình thương, hướng nội, cảm nhận được con đường tâm linh ngắn nhất; đây cũng là kết tựu của những tinh hoa từ cổ chí kim. Trong cấu trình Thành - Trụ - Hoại - Không, có các sinh vật đã cảm thụ thanh khí nên phát triển trí minh mẫn, trong đó có những con người mang nhiều hạt giống hướng thượng, xa rời vật chất, nặng phần tâm linh, cảm ứng được năng lượng thuần khiết, khai mở được luân xa, hiểu biết và thoát khỏi con đường ô trược. Do nhiều trình độ tu chứng trên bước đường tâm linh, nên những sự diễn đạt truyền dạy về tâm linh có nhiều khác biệt. Từ sự xuất phát của nhiều tôn giáo, cùng với tánh cố chấp của hậu lai, đã dẫn đến những mâu thuẫn cách biệt giữa các tôn giáo. Những quan điểm không đồng nhất từ hình thức đến nội dung, đã tạo ra nhiều ngôn từ vụng về làm con người ly gián lẫn nhau. Bao nhiêu nỗ lực tu hành của những người đi trước vẫn chỉ để giải quyết những phiền trược cá nhân, chứ không tìm ra một mẫu số chung để xóa bỏ ranh giới giữa các tôn giáo, giữa thể chất và tâm linh, giữa khoa học và tôn giáo, hầu kết hợp mọi người một cách hài hòa, sống cho trọn vẹn ý nghĩa nhân loại …

I. NGUỒN GỐC VÀ XUẤT XỨ
1. Đệ Nhứt Sư Tổ Dasira Narada.
Vào ngày 24 tháng 10 năm 1846 tại thành phố Colombo, Tích Lan, trong một gia đình quyền chức, Đức Sư Tổ DASIRA NARADA ra đời. Thân phụ là người Tích Lan mang dòng máu Bombay tên Ajita Narada, là một viên chức ngoại giao tính tình nghiêm nghị. Thân mẫu là người Ceylon, là một phật tử thuần tánh, đầy đủ đức tính của người phụ nữ Á Châu. Được sự phối hợp của hai dòng máu đã mang lại cho Đức Sư Tổ Dasira Narada một sắc mạo trắng hồng và một tâm hồn thanh cao. Tuy là người con trai duy nhất, là niềm hy vọng của gia đình, cho dù thân phụ Ngài vẫn mong muốn Ngài theo đuổi học trình ngoại giao, công pháp quốc tế, nhưng không vì thế mà Ngài bỏ ý định tìm đường hướng thượng, vì thế Ngài ghi danh học môn Triết học Đông Phương tại đại học Nalanda. Năm 25 tuổi, Ngài đã đậu bằng tiến sĩ Triết học Đông Phương. Chính môn học này đã giúp cho Ngài có một sự hiểu biết sâu sắc về kiếp người vô thường. Vốn sẵn tình thương và ý chí hướng thượng, cộng vào sự am hiểu về Triết học đã làm động lực thúc đẩy Ngài tìm đường giải thoát cho mình và cho nhân loại. Năm 42 tuổi, khi cha qua đời, Ngài được chính quyền Tích Lan mời tham gia quốc sự thay thế cha. Với sự tận tụy và năng nổ sâu sắc, Ngài đã đem lại nhiều kết quả khả quan cho bộ ngoại giao Tích Lan. Thành tích đó đã mở một con đường tiến thân đầy danh vọng tươi sáng cho bản thân Ngài. Sau năm năm, đột nhiên Ngài từ chức, rời bỏ địa vị mà bao nhiêu người mong muốn. Trên thân một mảnh y bạc màu, trong tay một chiếc gậy thô sơ, Ngài đã lặng lẽ ra đi tìm đường tu luyện. Ngài đặt chân lên dãy Hy Mã Lạp Sơn để ẩn tu. Sau 18 năm tu tập, Ngài đã chứng đắc trí đạt thông, tự khai mở được những cánh cửa luân xa, tiếp nhận vũ trụ tuyến vào thân thể. Điều quan trọng là Ngài đã tư duy ra Vi Diệu Pháp để khai mở luân xa cho người khác, mà không cần họ phải trải qua nhiều năm công phu khổ luyện như Ngài.

2. Đệ Nhị Sư Tổ Narada Mahathera và 5 Vị Tu Sĩ Tại VN
Sau thời gian du hóa khắp mọi nơi để giúp người, vào năm 1916 Đức Sư tổ Dasira Narada đã tìm chọn được một người đệ tử, lúc đó vừa tròn 18 tuổi. Ngài đã đặt hết niềm tin và chỉ dạy tất cả những hiểu biết thành tựu của Ngài cho người đệ tử, với ước mong đệ tử của Ngài sẽ gìn giữ Vi Diệu Pháp để lưu truyền cho hậu thế. Sau 8 năm truyền dạy cho đệ tử, năm 1924 Sư Tổ Dasira Narada đã ẩn mình và từ đó không ai còn thấy Ngài nữa.

Ngài Đệ Nhị Sư Tổ vốn xuất thân từ trường giòng Thiên Chúa giáo, nhưng sau khi được thọ nhận trách nhiệm giao phó của Đức Sư tổ Dasira Narada, Ngài đã chuyển sang Phật giáo Nam tông để tu hành với pháp danh Narada Mahathera, tuy nhiên Ngài vẫn tiếp tục âm thầm tu học và gìn giữ Vi Diệu Pháp. Do có nhiều duyên lành với Việt Nam, trên bước đường hoằng pháp khắp nơi vào những thập niên 1930-1950, Đệ Nhị Sư Tổ đã có nhiều dịp ghé sang và đi khắp mọi miền Việt Nam. Ngài đã thay mặt Phật Giáo Ấn Độ đem tặng cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Ngọc Xá Lợi, Kinh Tạng và cây Bồ Đề - di tích của Phật Thích Ca. Năm 1972, Đệ Nhị Sư Tổ trở lại Việt Nam lần cuối và đã mật truyền Vi Diệu Pháp cho năm vị tu sĩ Việt Nam gìn giữ, bao gồm các tôn giáo chánh ở Việt Nam là Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Cao Đài, Hoà Hảo và một nữ Bác sĩ tu tại gia. Năm 1974, Ngài trở về nước Tích Lan, từ đó không quay trở lại Việt Nam nữa. Chủ nhật, ngày 2, tháng 10, năm 1983, Đệ Nhị Sư Tổ viên tịch tại chùa Vajirarama, là nơi Ngài làm tăng trưởng và chưởng quản trong những năm cuối của đời Ngài. Đệ Nhị Sư Tổ hưởng thọ 85 tuổi. Tang lễ của Ngài được chính phủ và phật tử Tích Lan cử hành trọng thể theo quốc tang.

3. Chúng Tôi Nguyễn Đức Thuận và Nguyễn Ngọc Hải
Vi Diệu Pháp của Đức Sư Tổ Dasira Narada đã được gìn giữ để chờ đợi đến thời cơ thích hợp và thuận duyên. Sau 3 đời, từ Đức Sư Tổ, đến Đệ Nhị Sư Tổ và lần đến 5 vị tu sĩ ở Việt Nam, ngày nay thế hệ thứ tư do chúng tôi thọ nhận phần nhiệm từ những vị Thầy này. Từ đó chúng tôi đã truyền dạy Pháp của Đức Sư Tổ trong thế giới tâm linh ra ngoài thế giới hiện hửu và đã thành lập ra Pháp môn Vi Diệu Pháp Hành Thiền ngày hôm nay.

Chúng tôi thông suốt được nền tảng giáo lý của các tôn giáo chánh là Phật Giáo, Thiên Chúa Giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, Khổng Giáo và Lão Giáo qua các vị Thầy đời thứ 3. Điều đáng nói ở đây là bản thân chúng tôi từ trước chưa từng bị ràng buộc vào một tôn giáo nào. Nhờ vậy mà chúng tôi được sự phóng thoáng và tự do để tư duy ra một đạo lý tu học đương niệm, thích hợp cho mọi thành phần, không phân biệt, màu da, chủng tộc, tôn giáo, chính trị,… Nương theo tư tưởng của Đức Sư Tổ Dasira Narada, chúng tôi đã giúp con người hiểu biết, sống đạo đức, thoát khỏi mọi sự vị kỷ, phát triển một đời sống vị tha. Nhờ vậy sự giảng dạy của Pháp môn VDPHT đi đến nơi nào đều phù hợp và thích ứng được với phong tục tập quán của nơi đó.

Đức Sư Tổ Dasira Narada là vị Tổ khai mở ra đại lộ hầu đưa dẫn con người sáng suốt dần đến diệt khổ và giải thoát. Từ những siêu lý của Đức Sư Tổ trong thế giới tâm linh, chúng tôi đã dùng tất cả tâm huyết để tư duy ra một phương pháp tu tập thực tế khoa học. Minh triết dẫn dắt con người thoát khỏi mê tín, giải toả được những vướng mắc trong nội tâm, và hướng dẫn môn sinh từng bước một, trên con đường tu học tiến hoá tâm linh. Do đó Pháp môn VDPHT mới có danh xưng là môn khoa học tâm linh.

Trong những năm qua, chúng tôi đã đem hạt giống tình thương của Đức Sư Tổ gieo khắp nơi. Hiện nay, Pháp môn VDPHT đã có rất nhiều thiền đường trên thế giới, mỗi ngày các thiền đường hoạt động không ngừng nghỉ, giúp cho mọi người đạt được sự hiểu biết chân chánh, và mở rộng tình thương, hầu đem lợi ích cho sự tiến hóa chung của nhân loại. VDPHT là ngọn đuốc thiêng, soi sáng và hướng dẫn con người vượt thoát khỏi những bế tắc hiện tại, để xây dựng thế giới đại đồng, trong đó mọi người sống hòa thuận trong sự hiểu biết và tình thương. Chắc chắn rằng Pháp môn VDPHT sẽ được các thế hệ nối tiếp gìn giữ và phát huy.